Thứ ba, 08/05/2018, 13:29 GMT+7

Các phương pháp phân tích giúp phát hiện thuốc trừ sâu giả

Trong một phân tích hoàn thành vào năm 2016, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (Pháp) ước tính rằng thiệt hại do hàng giả và hàng lậu trên toàn thế giới gây ra lên tới 461 tỷ USD vào năm 2013.


Các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Hoa Kỳ (20 tỷ USD), Ý (15 tỷ USD), Pháp và Thụy Sĩ (12 tỷ USD/nước), Nhật Bản và Đức (8 tỷ USD/nước). Những quốc gia vi phạm nghiêm trọng nhất đến nay là Trung Quốc (61% số hàng giả) và Hồng Kông (21 %).

Sản xuất hàng giả là một vấn đề lớn ảnh hưởng đến người tiêu dùng cuối cùng cũng như doanh nghiệp sản xuất có bản quyền. Những ảnh hưởng này phần lớn là kinh tế, nhưng hãy xem xét các hậu quả tiềm tàng của việc sử dụng một loại thuốc giả.

Không chỉ các hàng hóa có giá trị cao bị làm giả, các sản phẩm có giá trị trung bình và thấp cũng bị làm giả như mật ong, rượu vang, và dầu ô liu. Thuốc trừ sâu có giá trung bình chỉ vài đồng đô la Mỹ cho mỗi pound cũng bị làm giả vì được sử dụng nhiều.

PHUƠNG PHÁP TÁCH

Theo đó, việc buôn bán thuốc trừ sâu giả với giá rẻ phổ biến ở các nước đang phát triển. Các chuyên gia tin rằng 30% thuốc trừ sâu đang sử dụng ở Trung Quốc là hàng giả trong khi con số này ở Ấn Độ, là 20%.Cũng giống như hầu hết các sản phẩm đã được đăng ký khác, việc giả mạo thuốc trừ ảnh hưởng xấu đến nên kinh tế và súc khỏe cộng đông. Tất cả các thuốc trừ sâu giả mạo ảnh hưởng tiêu cực đến các dòng sån phẩm chính của các nhà sàn xuất thuốc trừ sâu chính hãng do doanh số giảm sút và thương hiệu bị ảnh hưởng tiêu cực.

Hình thức giả mạo này sẽ dẫn đến hậu quả thứ phát. Thuốc trừ sâu có chứa ít hoặc không có hoạt chất cần thiết sẽ không mang lại tác dụng như mong muốn, dẫn đến mất mùa và thiếu hụt nguồn cung đối với một số sản phẩm nông nghiệp. Việc thay thế các thành phần hoạt tính cũng tuỳ thuộc vào tính an toàn và hiệu quả của thành phần thay thế: một số độc hại đối với con ngừơi và môi trường, một số thì không.

Các sản phẩm giả không mang lại hiệu quả khi sử dụng và không an toàn nhưng lại được làm rất tinh vi vì những người làm hàng giả bắt chước toàn bộ công thức sản phẩm chính hãng với khả năng tốt nhất – xuống mức tập trung các chất hoạt động và chất tẩy rửa chính. Bởi vì phân tích các thành phần hoạt chất cho biết rất ít về các sản phẩm như vậy, Avomeen Analytical Services (Ann Arbor, MI) áp dụng kỹ thuật đảo ngược hoặc “biến dạng” của thuốc trừ sâu đáng ngờ, sát cánh với mặt hàng chính hãng.

Tiến sĩ Andrew C. Kolbert, Chủ tịch của Avomeen và là giám đốc công nghệ cho biết từ thực tế này công ty đã phát triển các phương pháp kiểm tra để xác định xem sản phẩm mẫu là hàng giả hay không. Một khía cạnh để xác định xem liệu các nhà sản xuất có vi phạm  quyền sở hữu trí tuệ hay không là các thành phần và công thức.

Kolbert nói với tạp chí Lab Manager rằng bất cứ ai sản xuất thuốc trừ sâu giả cũng biết có gì trong sản phẩm ban đầu hoặc được cấp bằng sáng chế. Do đó cần phải tìm kiếm các thành phần mà những người làm hàng giả đã bỏ đi hoặc không nghĩ đến, mặt dù các hoạt chất đều giống nhau.

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu như người làm hàng giả sản xuất hàng giả với chất lượng tốt như hàng thật? Theo ông Kolbert, điều đó hầu như không thể. “Thuốc trừ sâu chính hãng và giả mạo sẽ không bao giờ giống nhau. Nhà sản xuất hàng chính hãng không bắt buộc phải liệt kê toàn bộ hoạt chất dùng để sản xuất hàng đó. Và cũng không phải là tất cả các hoá chất và máy móc chế biến đều giống nhau. Cao su hoặc sản phẩm nhựa ở nhà máy A không giống như trong nhà máy B. Luôn luôn có những điểm duy nhất cho sản phẩm hợp pháp mà không thể trùng lắp”, ông Kolbert cho biết.

Trên thực tế, nhà sản xuất hàng chính hãng sẽ thêm một số thành phần không được ghi trên nhãn sản phẩm hoặc trên các mẫu đăng ký. Đây là những điểm mà những người sản xuất hàng giả rất khó bắt chước và chỉ có nhà sản xuất hàng chính hãng mới biết.


VẤN ĐỀ CỦA CHÂU ÂU?

Tình trạng làm giả thuốc trừ sâu ở châu Âu (EU) nghiêm trọng hơn ở Bắc Mỹ. Văn phòng Sở hữu trí tuệ Liên minh châu Âu (EUIPO) vừa công bố một báo cáo chỉ ra rằng thuốc trừ sâu giả gây ra thiệt hại 1,4 tỷ USD mỗi năm cho khu vực này, tương đương 14% thu nhập từ kinh doanh thuốc trừ sâu chính hãng và mất cơ hội việc làm khoảng 2.600 lao động ngành công nghiệp thuốc trừ sâu châu Âu. Các nhà sản xuất vừa và nhỏ, chiếm khoảng 40% thương mại thuốc trừ sâu chịu tác động lớn từ tình trạng này. Theo báo cáo này, nền kinh tế EU bị thiệt hại khoảng 2,8 tỷ euro (khoảng 3,3 tỷ đô la) do thuốc trừ sâu giả gây ra. Ngoài ra, nhiều thương hiệu bị tổn hại, rất khó định lượng.

Mỗi năm, Đức sử dụng khoảng 95.000 tấn thuốc trừ sâu trong nông nghiệp bao gồm 32.000 tấn hoạt chất. Ở Đức, thuốc trừ sâu phải đựơc cấp phép và giám sát sau khi được đưa ra thị trường để đảm bảo các thành phần có trong sản phẩm theo đúng công thức và hướng dẫn sử dụng. Những công thức này đuợc gọi là các đặc điểm kỹ thuật.

Ở châu Âu, các sản phẩm có cùng đặc điểm kỹ thuật (như thành phần giống nhau) có thể được nhập khẩu từ các quốc gia thành viên khác mà không cần đăng ký bổ sung, nhưng phải xác định danh tính trước tiên thông qua hồ sơ giấy tờ và sau đó nếu có nghi ngờ thì sẽ được phân tích.

Để xác định danh tính người ta thực hiện các phương pháp phân tích bao gồm cả xét nghiệm nồng độ hoạt chất và các thành phần khác, xác định các tính chất vật lý và hoá học đồng thời phân tích tạp chất. Thuốc trừ sâu giả sẽ bị phát hiện bằng kết quả thử nghiệm. Ngoài ra việc kiểm tra cũng sẽ phát hiện ra các sản phẩm ghi sai nhãn, hoặc không đúng theo quy định hoặc chưa được cấp phép.

Các thông số kỹ thuật cho thuốc trừ sâu chính hãng được thiết lập thông qua các quy định, áp đặt những ràng buộc chặt chẽ đối với các thành phần quan trọng, tá dược, và tạp chất có trong sản phẩm.

Các tiêu chí xác định chính bao gồm bề ngoài, mật độ, và nhũ tương; sự bất thường là cơ sở cho việc xác định danh tính sản phẩm. Ngoài ra còn một số tiêu chí khác cũng có thể dùng để xác định như độ pH, độ nổi và sức căng bề mặt.

Đối với thuốc trừ sâu, GC-MS hoặc LC-MS là những phương pháp phân tích được lựa chọn, nhưng các phương pháp khác có thể được sử dụng riêng lẻ, ví dụ như phân tích kích thước hạt. Ở Đức, khoảng 20% thuốc trừ sâu có thành phần dễ bay hơi được phân tích bởi GC-MS. LC-MS xử lý phần còn lại.

Mặc dù các quy trình và thông lệ có khác nhau giữa quản lý nhà nước và công ty tư nhân, nhưng các phương pháp và cách tiếp cận tương tự nhau.

Tiến sĩ Martin Feyerabend, Chủ tịch Hiệp hội Dịch vụ Công nghiệp châu Âu (Lancaster, PA) cho biết các xét nghiệm được thực hiện phụ thuộc vào mức độ nghi ngờ đối với một sản phẩm. "Các nhà chức trách ở Đức thử nghiệm nhiều hoặc ít tùy mức độ. Tuy nhiên, các nhà sản xuất có thể có cơ sở cụ thể hơn để nghi ngờ sản phẩm nào giả mạo, và sẽ biết rõ hơn về các thông số cần tìm. "

Eurofins thực hiện cả kiểm tra giám sát chung và phân tích khi nghi ngờ gian lận. "Trong trường hợp thứ hai, chúng tôi sẽ tư vấn cho khách hàng về chế độ thử nghiệm, ví dụ, phân tích mẫu theo đặc điểm kỹ thuật sản phẩm thực tế. Đối với việc kiểm tra mẫu ngẫu nhiên, chúng tôi và khách hàng đồng ý về cách tiếp cận phân tích theo từng bước”, Tiến sĩ Martin Feyerabend cho biết.

CHỦ ĐỘNG HAY PHẢN ỨNG

Các kỹ thuật phân tích để phát hiện và xác định các loại thuốc trừ sâu giả đều vấp phải phản ứng. Trong tình huống này, nhà phân phối sẽ bị “tuýt còi” đầu tiên nhằm giảm bớt thiệt hại. Tuy nhiên, có trường hợp xấu là mọi công đoạn đã hoàn tất  và sản phẩm phân bón giả đã được tiêu thụ và sử dụng trong môi trường.

Do đó cần phải có hệ thống theo dõi và truy xuất để có thể phát hiện sản phẩm giả ở giai đoạn sớm nhất. Tuy nhiên, hệ thống này cần sự hợp tác chặt chẽ giữa người sản xuất và người sử dụng, giúp cảnh báo các bên liên quan những tình huống không lường trước được.

Nền tảng xác định (Verify platform) của Verify Brand (Minneapolis, Mỹ) sử dụng các mã định danh an toàn duy nhất (sUIDs) và các tính năng truy xuất sản phẩm để theo dõi toàn bộ chuỗi sản phẩm, tạo cơ sở cho việc kiểm tra độ an toàn cũng như hệ thống cảnh báo từ điểm sản xuất đến phân phối tới người dùng thông qua các công cụ báo cáo dựa trên web. Một trang web bảo mật và ứng dụng di động cung cấp quyền truy cập vào dữ liệu thời gian thực và phân tích. Như vậy, việc theo dõi có thể đuợc xem như là hàng rào phòng thủ đầu tiên chống lại hàng giả.

Việc theo dõi liên quan đến việc xác thực mã nhận dạng do máy tạo ra trên nhãn sản phẩm hoặc đóng gói đối với các mục nhập trong một thông tin chi tiết về ngành: cơ sở dữ liệu về môi trường. Có thể kết hợp nhiều tính năng bảo mật như dấu hiệu giả mạo, các hình ba chiều, và các định dạng duy nhất, dưới dạng các ký tự chữ cái có thể đọc được của con người, mã vąch, gần trường hoặc RFID, để đảm bảo mức độ bảo đảm cao hơn.

Verify Brand đã làm việc với các nhà sản xuất hóa chất và thuốc trừ sâu lớn, cũng như các nhà sản xuất đồ uống có cồn cao cấp. Để chống lại hàng giả, các nhà sản xuất đang lên kế hoạch thảo luận chi tiết các chương trình bảo vệ thương hiệu hoặc cho phép sử dụng tên của thương hiệu trong các nghiên cứu.

Curt Tomhave – dịch vụ viên chuyên nghiêp tại Verify Brand cho rằng trong khi các phương pháp phân tích cần phải thực hiện ở phòng lab và giữ bí mật thì việc xác thực bằng số hóa và việc theo dõi truy xuất được công khai và dựa trên giao tiếp với người dùng cuối cùng. "Mặc dù việc xác thực và theo dõi số hóa không đảm bảo rằng sản phẩm gắn liền với mã nhận dạng duy nhất là chính hãng nhưng nó mang lại cho người tiêu dùng sự tin tưởng rằng sản phẩm đó là xác thực và cung cấp cho chủ sở hữu thương hiệu sản phẩm đó công cụ để điều tra nguồn bất hợp pháp".

Hoàng Nam
 (Theo Lab Manager)
Bản tin thử nghiệm ngày nay số 3 - Tháng 01/2018

 

CASE CẦN THƠ
Copyright © 2010-2018 case.vn, All right reserved Contact us - About Case
Design by case.vn - Counter : 1771484 | Online : 34